Ung thư dạ dày là một trong những nguyên nhân gây tử vong phổ biến chỉ sau ung thư gan. Dạ dày là cơ quan quan trọng trong hệ tiêu hoá thực hiện việc phân huỷ và tiêu hoá thức ăn.
Ung thư dạ dày là một trong những nguyên nhân gây tử vong phổ biến chỉ sau ung thư gan. Dạ dày là cơ quan quan trọng trong hệ tiêu hoá thực hiện việc phân huỷ và tiêu hoá thức ăn.
Một số hoạt chất trong tự nhiên cũng liên quan nhiều đến khả năng hoạt động của dạ dày. Hôm nay chúng ta cùng Trường Cao đẳng y dược Pasteur tìm hiểu về vấn đề này nhé!
1. Vai trò của Carotenoid đối với ung thư dạ dày
Hình. Công thức hoá học của một số loại carotenoid
Carotenoid là các sắc tố màu vàng, cam và đỏ được tìm thấy trong trái cây và rau quả. Chúng ta có thể phân biệt:
Những loại mà cơ thể có thể sử dụng để tạo thành vitamin A, tức là, α-carotene,-carotene và-cryptoxanthin;
Những loại không thể chuyển đổi thành vitamin A, tức là lutein, zeaxanthin và lycopene. Lutein và zeaxanthin có thể bảo vệ các tế bào chuyên biệt trong võng mạc khỏi tác hại của quá trình oxy hóa.
Bổ sung lutein và zeaxanthin có thể giúp làm chậm quá trình thoái hóa điểm vàng do tuổi tác ở những người bị ảnh hưởng, đặc biệt nếu lượng caroten của họ từ thực phẩm thấp.
Carotenoid đã chứng minh hoạt động chống ung thư trong các thí nghiệm trong ống nghiệm. Việc bổ sung β-caroten không làm giảm nguy cơ ung thư nói chung. Những người có nguy cơ mắc bệnh ung thư phổi, bao gồm cả những người hút thuốc, được khuyên không nên sử dụng chất bổ sung β-caroten. Các nghiên cứu đoàn hệ tương lai không tìm thấy mối liên hệ nào giữa việc ăn nhiều trái cây và rau củ giàu caroten với nguy cơ ung thư dạ dày. Thường xuyên bổ sung β-caroten với liều ≥20 mg/ngày trong nhiều năm có thể làm tăng nguy cơ ung thư dạ dày, đặc biệt ở những người hút thuốc.
2. Vai trò của Curcumin đối với ung thư dạ dày
Curcumin là một hóa chất thực vật tự nhiên có nhiều trong củ nghệ. Các thí nghiệm được thực hiện trong ống nghiệm chỉ ra rằng chất curcumin có thể kích hoạt hệ thống phòng thủ chống oxy hóa và chống viêm trong tế bào.
Các thí nghiệm trên động vật cho thấy tác dụng bảo vệ của curcumin chống lại các vết loét do căng thẳng và các tổn thương khác của niêm mạc dạ dày do sử dụng thuốc mãn tính (ví dụ: NSAID).
Kết quả của các nghiên cứu thí điểm cho thấy rằng curcumin uống liều cao có thể giúp cải thiện các dấu hiệu liên quan đến khối u và giúp giảm triệu chứng ở bệnh nhân ung thư.
Hiệu quả điều trị của việc sử dụng curcumin đường uống phụ thuộc vào khả dụng sinh học của curcumin, rất thấp vì curcumin dễ dàng được cơ thể bài tiết khi hấp thụ. Các giải pháp sáng tạo đang được phát triển để cải thiện khả dụng sinh học của curcumin.
Việc sử dụng curcumin như một chất hỗ trợ cho điều trị tiêu chuẩn đã được chứng minh là làm giảm các triệu chứng ở bệnh nhân viêm dạ dày do Helicobacter pylori gây ra.
Chưa có nghiên cứu nào ở người kiểm tra lượng curcumin từ thực phẩm hoặc chất bổ sung liên quan đến nguy cơ ung thư dạ dày.
3. Vai trò của Flavonoid đối với ung thư dạ dày
Flavonoid là hóa chất thực vật thuộc nhóm hợp chất gọi là phenol.
Sáu phân lớp chính của flavonoid được tìm thấy rộng rãi trong thực vật ăn được: anthocyanidins, flavan-3-ols, flavonols, flavones, flavanones và isoflavones.
Ăn nhiều thực phẩm giàu flavonoid có liên quan đến nguy cơ tử vong sớm thấp hơn 26%.
Nhiều tác dụng sinh học của flavonoid có liên quan đến khả năng điều chỉnh các đường truyền tín hiệu bên trong tế bào. Trong ống nghiệm và thí nghiệm trên động vật:
Flavonoid cho thấy các hoạt động chống ung thư, bao gồm khả năng loại bỏ các gốc tự do, kích hoạt bài tiết chất gây ung thư và ngăn chặn sự nhân lên và lan rộng của các tế bào bất thường.
Một số flavonol, cụ thể là kaempferol và quercetin, cũng đã thể hiện các hoạt động chống vi khuẩn Helicobacter pylori.
Có rất ít bằng chứng cho thấy rằng việc hấp thụ nhiều thực phẩm và đồ uống giàu flavonoid có liên quan đến việc giảm nguy cơ phát triển ung thư dạ dày.
|
Hình. Một số dạng chuyển hoá của Flavonoid
Không có thử nghiệm nào khám phá những lợi ích tiềm năng của flavonoid trong việc ngăn ngừa hoặc điều trị ung thư dạ dày
5. Vai trò của Isothiocyanate đối với ung thư dạ dày
Isothiocyanate là các hợp chất được hình thành từ glucosinolate có trong các loại rau họ cải (ví dụ: cải Brussels, cải xoăn, bông cải xanh, cải ngọt).
Các isothiocyanate nổi bật nhất bao gồm benzyl isothiocyanate, phenethyl isothiocyanate và sulforaphane.
Tác dụng sinh học của isothiocyanate có liên quan đến khả năng điều chỉnh các đường truyền tín hiệu bên trong tế bào.
Trong thí nghiệm ống nghiệm và động vật:
Isothiocyanate có thể hạn chế sự nhân lên của Helicobacter pylori và giảm thiểu tình trạng viêm dạ dày do Helicobacter pylori gây ra;
Isothiocyanate có thể giúp loại bỏ các chất gây ung thư, bảo vệ các tế bào/mô khỏi bị hư hại do oxy hóa, đồng thời ngăn chặn sự nhân lên và lan rộng của các tế bào ung thư.
Ăn nhiều rau họ cải có liên quan đến việc giảm nguy cơ phát triển ung thư dạ dày.
Bằng chứng từ các nghiên cứu thí điểm hiện còn quá hạn chế để nói liệu việc bổ sung isothiocyanate có thể giúp kiểm soát nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori ở người hay không.
6. Vai trò của đồ uống có cồn đối với ung thư dạ dày
Đồ uống có cồn có chứa ethanol và các thành phần khác có đặc tính hoạt tính sinh học và ảnh hưởng đến sức khỏe.
Khi tiêu thụ ở mức độ vừa phải (1-2 ly/ngày), rượu có tác dụng có lợi đối với hệ tim mạch.
Ngay cả khi uống ít rượu cũng có thể làm tăng nguy cơ ung thư.
Uống rượu là một yếu tố nguy cơ đối với một số loại ung thư, bao gồm ung thư khoang miệng, hầu họng, thanh quản, thực quản, đại trực tràng, vú và gan.
Không có bằng chứng nhất quán nào cho thấy nguy cơ ung thư dạ dày cao hơn khi uống thường xuyên ≤1 ly rượu/ngày.
Uống thường xuyên >1 ly rượu/ngày (>24 g/ngày) có liên quan đến nguy cơ ung thư dạ dày cao hơn.
Nguy cơ ung thư dạ dày tăng 7% đối với mỗi lần uống thêm 10 g/ngày.
Sưu tầm thạc sĩ Trần Thị Minh Tuyến