ACID FOLIC VÀ BỆNH TIM MẠCH

Thứ ba, 20/06/2023 | 16:58

Acid Folic là một loại vitamin B hay còn được gọi là vitamin B9, đã không còn xa lạ gì đối với chúng ta, đặc biệt là chức năng của nó đối với cơ thể.

Theo nhiều nghiên cứu cho thấy Folate có liên quan đến sự tăng giảm của lượng Homocystein – một yếu tố được xem là dẫn chứng cho bệnh tim mạch trong cơ thể. Hôm nay cùng trường Cao đẳng Y dược Pasteur tìm hiểu về chủ đề này nhé!

1. Homocysteine ​​và bệnh tim mạch

01687255149.jpeg

Hình. Công thức hoá học của Homocystein

    Kết quả của hơn 80 nghiên cứu chỉ ra rằng nồng độ homocysteine trong máu thậm chí tăng vừa phải cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch (CVD). Các khuynh hướng có thể xảy ra đối với tai biến mạch máu cũng có liên quan đến sự thiếu hụt di truyền trong quá trình chuyển hóa homocysteine ở một số quần thể nhất định. Cơ chế mà homocysteine có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh mạch máu là chủ đề của rất nhiều nghiên cứu, nhưng nó có thể liên quan đến tác dụng phụ của homocysteine đối với quá trình đông máu, giãn mạch và dày thành động mạch. Mặc dù nồng độ homocysteine trong máu tăng liên tục có liên quan đến tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch, nhưng vẫn chưa rõ liệu việc giảm homocysteine trong tuần hoàn có làm giảm nguy cơ bệnh tim mạch hay không. Nghiên cứu ban đầu đã dự đoán rằng việc giảm kéo dài nồng độ homocysteine ​​trong huyết thanh ở mức 3 micromol/lít sẽ làm giảm nguy cơ mắc bệnh CVD tới 25% và là mục tiêu điều trị hợp lý cho những người có nguy cơ cao. Tuy nhiên, phân tích các thử nghiệm lâm sàng gần đây về việc bổ sung vitamin B đã chỉ ra rằng việc giảm nồng độ homocysteine không ngăn ngừa sự xuất hiện của biến cố tim mạch thứ hai ở những bệnh nhân mắc bệnh CVD. Do đó, Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ khuyến nghị chỉ sàng lọc nồng độ homocysteine ​​tổng cao ở những người "có nguy cơ cao", ví dụ, ở những người có tiền sử cá nhân hoặc gia đình mắc bệnh tim mạch sớm, suy dinh dưỡng hoặc hội chứng kém hấp thu, suy giáp, suy thận, lupus hoặc cá nhân dùng một số loại thuốc (acid nicotinic, theophylline, nhựa liên kết acid mật, methotrexate và L-dopa).

2. Sự liên hệ giữa Folate và homocysteine

11687255149.jpeg

Hình. Bệnh nhồi máu cơ tim

    Chế độ ăn giàu folate có liên quan đến việc giảm nguy cơ mắc bệnh CVD, bao gồm bệnh động mạch vành, nhồi máu cơ tim (đau tim) và đột quỵ. Một nghiên cứu theo dõi 1.980 nam giới Phần Lan trong 10 năm cho thấy những người tiêu thụ nhiều folate nhất trong chế độ ăn uống có nguy cơ mắc bệnh mạch vành cấp tính thấp hơn 55% so với những người tiêu thụ ít folate nhất trong chế độ ăn uống. Trong số ba loại vitamin B điều chỉnh nồng độ homocysteine, acid folic đã được chứng minh là có tác dụng lớn nhất trong việc làm giảm nồng độ cơ bản của homocysteine trong máu khi không có sự thiếu hụt đồng thời vitamin B12 hoặc vitamin B6. Tăng lượng folate thông qua thực phẩm hoặc chất bổ sung giàu folate đã được chứng minh là làm giảm nồng độ homocysteine. Bên cạnh đó, nồng độ homocysteine trong máu đã giảm kể từ khi FDA bắt buộc phải bổ sung acid folic vào nguồn cung cấp ngũ cốc ở Mỹ. Một phân tích tổng hợp của 25 thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng, bao gồm gần 3.000 đối tượng, cho thấy việc bổ sung acid folic với liều lượng 800 μg/ngày trở lên có thể giúp giảm tối đa 25% nồng độ homocysteine trong huyết tương. Trong phân tích tổng hợp này, liều hàng ngày 200 μg và 400 μg acid folic có liên quan đến việc giảm 13% và 20% homocysteine ​​trong huyết tương tương ứng. Chế độ bổ sung 400 μg acid folic, 2 mg vitamin B6 và 6 μg vitamin B12 đã được Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ ủng hộ nếu thử nghiệm ban đầu về chế độ ăn giàu folate không thành công trong việc hạ thấp đầy đủ nồng độ homocysteine.

    Mặc dù việc bổ sung acid folic có hiệu quả làm giảm nồng độ homocysteine, nhưng vẫn chưa rõ liệu nó có làm giảm nguy cơ mắc bệnh CVD hay không. Một phân tích tổng hợp gần đây về 19 thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, bao gồm 47.921 đối tượng mắc bệnh tim mạch hoặc bệnh thận từ trước, cho thấy việc giảm homocysteine thông qua acid folic và bổ sung vitamin B khác không làm giảm tỷ lệ mắc bệnh CVD mặc dù đã giảm đáng kể nồng độ homocysteine trong huyết tương. Các phân tích tổng hợp khác đã xác nhận thiếu quan hệ nhân quả giữa việc giảm homocysteine và nguy cơ mắc bệnh CVD, bao gồm cả nguy cơ đột quỵ. Do đó, Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ đã loại bỏ khuyến cáo sử dụng acid folic để ngăn ngừa bệnh tim mạch ở phụ nữ có nguy cơ cao. Cần lưu ý rằng phần lớn các thử nghiệm phòng ngừa cho đến nay đã được thực hiện ở bệnh nhân CVD mắc bệnh tiến triển. Bằng chứng ủng hộ vai trò có lợi của folate và các vitamin B liên quan dường như là mạnh nhất để ngăn ngừa đột quỵ ban đầu.

3. Kết luận

    Bất chấp những tranh cãi về vai trò của việc giảm homocysteine trong phòng ngừa CVD, một số nghiên cứu đã điều tra tác dụng của việc bổ sung acid folic đối với sự phát triển của chứng xơ vữa động mạch, một yếu tố nguy cơ đã biết đối với tai biến mạch máu. Phép đo độ dày lớp nội trung mạc động mạch cảnh (CIMT) là tiêu chí thay thế cho chứng xơ vữa động mạch sớm và là yếu tố dự báo các biến cố tim mạch. Phân tích tổng hợp 10 thử nghiệm ngẫu nhiên kiểm tra hiệu quả của việc bổ sung acid folic cho thấy CIMT giảm đáng kể ở những đối tượng mắc bệnh thận mãn tính và những người có nguy cơ mắc bệnh tim mạch, nhưng không phải ở những người tham gia khỏe mạnh. Rối loạn chức năng nội mô là một đặc điểm phổ biến trong xơ vữa động mạch và bệnh mạch máu. Liều cao acid folic (400-10.000 μg/ngày) có liên quan đến việc cải thiện sức khỏe mạch máu ở cả người khỏe mạnh và người mắc bệnh tim mạch. Mặc dù các thử nghiệm gần đây không chứng minh được bất kỳ tác dụng bảo vệ tim mạch nào từ việc bổ sung acid folic, nhưng lượng folate thấp là một yếu tố nguy cơ đã biết đối với bệnh mạch máu và cần có nhiều nghiên cứu hơn để khám phá vai trò của folate trong việc duy trì sức khỏe mạch máu.

Sưu tầm Thạc sĩ Trần Thị Minh Tuyến

Cách xử lý khi gặp khó thở và những lưu ý quan trọng

Cách xử lý khi gặp khó thở và những lưu ý quan trọng

Mọi người đều có thể trải qua khó thở ở mức độ khác nhau. Tuy nhiên, cách xử lý khi bị khó thở để ngăn ngừa các biến chứng và bảo vệ sức khỏe thường không phải ai cũng biết.
Corticoid : Lợi ích điều trị và các tác dụng cần lưu ý

Corticoid : Lợi ích điều trị và các tác dụng cần lưu ý

Corticoid là thuốc chống dị ứng, chống viêm và ức chế miễn dịch, được dùng cho nhiều bệnh lý. Tuy nhiên, do hiệu quả giảm triệu chứng nhanh, corticoid thường bị lạm dụng, dẫn đến nhiều tác dụng phụ nghiêm trọng khi sử dụng không đúng cách.
Ornidazole: Thuốc điều trị amip và những lưu ý khi sử dụng

Ornidazole: Thuốc điều trị amip và những lưu ý khi sử dụng

Ornidazole là thuốc được các chuyên gia y tế chỉ định trong điều trị các tình trạng nhiễm khuẩn, ký sinh trùng như amip ở gan và ruột hay bệnh do Giardia... Hãy cùng tìm hiểu về tác dụng và lưu ý cách sử dụng thuốc Ornidazole qua bài viết dưới đây nhé.!
Các tác nhân gây ra đau bụng kinh mà bạn nên biết

Các tác nhân gây ra đau bụng kinh mà bạn nên biết

Đau bụng kinh là triệu chứng thường gặp ở phụ nữ trong thời kỳ kinh nguyệt. Mức độ đau có thể khác nhau tùy vào cơ địa mỗi người; có người chỉ bị đau nhẹ, trong khi người khác có thể chịu đựng cơn đau dữ dội đến mức ngất xỉu.
Đăng ký trực tuyến